Bạn muốn sở hữu mẫu này, liên hệ với Hiqudotts

Quyển I - Xích Thố Thôn Thạch Mã (4): Nữ Tướng Sĩ Loan Ngọc

Trời sập tối rất nhanh. Thôn Thạch Mã vốn đã âm u, nay bị màn đêm nuốt chửng lại càng thêm phần quỷ dị. Không khí những ngày giáp Tết cũng chẳng đủ sức xua đi vẻ quạnh quẽ bao trùm nơi này.
Bấy giờ, Đạt mới biết Hùng là dân leo núi chuyên nghiệp, nên cơ thể khá linh hoạt. Nói cũng phải, thường xuyên sống ở nơi này, Hùng có kĩ thuật leo núi mới là chuyện dĩ nhiên. Suốt chặng đường về, cậu ta có vẻ trầm mặc hơn, không thấy nói năng câu nào.
Hai người về đến nhà ông Tam lúc trời tối hẳn. Cánh cổng gỗ vốn bị phong tỏa bằng dây ngăn cách, đóng kín mít, nay lại khép hờ, để lộ một khoảng tối hun hút bên trong.
Hùng gọi lớn: “Ông Tam!”
Đáp lại lời Hùng chỉ có tiếng gió rít qua khe cửa.
Đạt bước nhanh vào trong. Căn nhà trống hoác. Ông Tam không có ở đó. Đạt theo bản năng quay lại hỏi Hùng: “Ông Tam không về nhà luôn à? Hay đây là hiện trường vụ án, ông ấy không thể vào,... không muốn về?”
Hùng lắc đầu, khẳng định: “Con Xích Thố vẫn còn ở trong nhà, ông ta sống chết thế nào cũng sẽ về nhà kiểm tra. Tôi nhớ trước đó cảnh sát liên hệ với ông ta, vì ông ta kiên quyết không muốn di dời con Xích Thố, nên phía cảnh sát mới để nó lại ở hiện trường luôn mà. Hơn nữa, muốn di dời con ngựa đá này, ít nhất cũng phải cần bốn người khỏe khoắn mới có thể khiêng đi được!”
Đạt trầm ngâm một lát rồi chợt lên tiếng: “Chưa chắc con tượng đá Xích Thố kia còn ở trong nhà!”
Hai người nhìn nhau, hiểu ý, rồi lần nữa cùng lén chui vào hiện trường, xông thẳng vào trong căn phòng sau tấm rèm đỏ. Căn phòng phía sau không hiểu vì lí do gì mà tan hoang như vừa trải qua một trận bão. Nhưng đó không phải tâm điểm, thứ quan trọng nhất là bức tượng ngựa Xích Thố khổng lồ vốn dĩ nằm ở trung tâm gian phòng, đã không cánh mà bay!
Trên nền nhà, nơi từng đặt bức tượng, chỉ còn trơ lại bốn dấu chân đế hằn xuống gạch, xung quanh đều là những đồ vật gãy nứt nằm rải rác khắp nơi, tuyệt nhiên không còn dấu vết nào của bức tượng Xích Thố nữa!
Hùng thốt, khuôn mặt lộ rõ vẻ ngạc nhiên: “Không thể nào! Con ngựa đá đó nặng cả tạ, mới qua mấy tiếng mà đã bị chuyển đi là như nào?”
Đạt cúi xuống, dùng đèn pin soi lên bốn dấu chân còn sót lại. Trên đó vẫn còn chút vết đỏ. Sau đó, Đạt đứng dậy, phủi tay nói: “Chưa chắc bức tượng này là có người mang đi.”
Hùng lạnh gáy, hoang mang hỏi: “Ý anh là…”
Đạt vừa quét đèn khắp nhà, vừa nói: “Cậu còn nhớ lúc trưa tôi và cậu đến đây xem bức tượng này thì tư thế của nó trông như nào không?”
Hùng đáp gần như tức khắc: “Nó rất lớn, đang trong tư thế chồm lên, hai chân trước tung ra trước như đang hí...”
Lời còn chưa hết, Hùng đã cảm thấy sống lưng của mình truyền đến một cơn buốt lạnh. Đúng vậy! Tư thế của con Xích Thố là đang chồm lên, hai chân trước tung vó lên trời kia mà! Nếu là tượng, thì điểm tiếp xúc với mặt đất chỉ có hai chân sau và cùng lắm là thêm phần đuôi chạm đất để giữ thăng bằng. Vậy tại sao dưới nền gạch này lại in đủ bốn dấu móng ngựa?
Hùng buột miệng nói: “Ý của anh không lẽ là... con ngựa đá đó nó tự hạ chân xuống rồi đi ra ngoài?”
Đạt không trả lời câu hỏi đầy hoang đường đó, nhưng sự im lặng của anh còn đáng sợ hơn cả một lời xác nhận. Gió lùa qua khe cửa sổ rít lên từng hồi khiến không gian trong căn nhà trống hoác càng thêm quỷ dị. Hùng rùng mình, chân tay cứ cứng đờ lại.
Khi nghe về cái chết của bà Mến, Đạt từng giả thuyết hung thủ đã đánh ngất nạn nhân, đặt dưới vó ngựa đang chồm lên, rồi gắn đinh sắt vào móng ngựa và xô đổ bức tượng để tạo ra vết thương chí mạng. Như vậy, có thể khiến lồng ngực nạn nhân bị vỡ, mất máu nhiều đến mức chết. Theo lẽ đó, kẻ thủ ác muốn dựng lên một hiện trường quỷ thần liên quan đến ngựa, mượn sự hỗn loạn từ quỷ thần ngựa lan truyền khắp thôn để che giấu tội ác, hoặc là vì mục đích khác.
Cái chết của bà Mến khả năng cao là liên quan đến ông Tam và con Xích Thố của ông ta. Nay ông Tam và con Xích Thố này lại đột ngột biến mất, khiến cái chết trước đó của bà Mến lại hiện diện trong tâm trí anh.
Cái chết của bà Mến có khả năng rất lớn liên quan đến ngựa, và cái bãi chôn tập thể nằm trên núi!
Đạt đăm chiêu suy nghĩ, rồi bất giác lắc đầu một cái. Anh không phải là cảnh sát, không điều tra vụ án, cũng không cần quan tâm đến những chuyện này. Mục đích chính của anh đến Thạch Mã là thương thảo về con Xích Thố của ông Tam.
Có điều, con ngựa đá này, và cả chủ nhân của nó lại đột ngột mất tăm mất tích!
Đạt cảm thấy vị đắng dâng lên trong cổ họng. Chuyến đi này xem như thất bại toàn tập. Nếu lúc trước vác được tảng đá ở bãi chôn tập thể về, thì giờ này anh đã yên vị ở nhà, nằm trườn ra chiếc giường êm ái, chứ đâu phải chui rúc ở cái chốn rừng thiêng nước độc này!
Đạt mệt mỏi, quay lại nhìn Hùng nói: “Ở đây có ai biết nhiều chuyện xảy ra trong thôn không?”
Hùng đáp: “Có rất nhiều người già trong thôn, nếu hỏi về người hiểu biết về thôn nhiều nhất, thì đương nhiên phải tìm người lớn tuổi nhất. Tôi biết một cụ, tên một chữ Mẫn. Cụ bị mù lòa từ nhỏ, nhưng nay đã gần một trăm hai mươi tuổi rồi!”
Đạt bước ra khỏi gian phòng, vừa đi vừa nói: “Dẫn tôi đến gặp cụ đi.”
Hùng ngạc nhiên, lên tiếng: “Anh muốn gặp cụ để làm gì?”
Đạt không đáp, Hùng thì lại quen với việc đó, chẳng muốn hỏi thêm nữa.
Thực tế Đạt cũng chẳng biết vì sao mình lại muốn đi gặp cụ Mẫn. Có lẽ là vì anh không cam lòng khi đi một chuyến lên đây lại về tay không như thế!
Nhà cụ Mẫn nằm lọt thỏm giữa một rừng tre già, tách biệt hẳn với khu dân cư. Con đường dẫn vào nhà cụ lát đá, hai bên là những bụi tre rậm rạp đan nhau che khuất ánh sáng, khiến lối đi lúc nào cũng chìm trong tranh tối tranh sáng.
Đạt nhìn thấy cụ Mẫn là khi cụ đang ngồi trên một chiếc chõng tre cũ kỹ ngoài sân. Đôi mắt cụ đục ngầu, trắng dã, không có lòng đen.
Hùng bước tới, tươi cười chào cụ: “Cụ Mẫn có khỏe không, cháu là Hùng đây!”
Cụ Mẫn nghe thấy giọng nói của Hùng, liền ngước đầu lên nhìn về phía phát ra âm thanh, nói: “Hùng, Hùng đến chơi đó à?”
Hùng thoải mái ngồi xuống, nhúp một cái kẹo lên miệng, vừa nhai vừa trả lời: “Bạn cháu muốn đến thăm cụ, chứ cháu mấy nay bận muốn chết, có thời gian đâu mà qua đây!”
Nói xong, Hùng lại vươn tay ra định nhúp thêm một cái kẹo nữa, nhưng lại bị cụ Mẫn chính xác đánh một cái vào tay. Sau đó, cụ Mẫn nắm lấy một nhúm kẹo, vứt về phía Hùng, nói: “Không đến thăm mà dám ăn kẹo của ta! Cháu lấy đống kẹo này mà cút về luôn đi!”
Hùng cười hì hì nhìn cụ, vừa liếc Đạt vừa lên tiếng nói với cụ Mẫn: “Cháu đi, cháu đi!”
Lúc này, Đạt mới lên tiếng: “Cháu chào cụ. Cháu tên Đạt, bạn của Hùng. Cháu đến đây vì bức tượng Xích Thố của ông Tam. Vốn là tối nay ông Tam sẽ trở về, nhưng cháu tới nhà thì phát hiện ông Tam cùng bức tượng Xích Thố đều đột ngột mất tích... Cháu nghe nói ở trước thôn có một cái bãi chôn tập thể đã có từ mấy đời, ông Tam đã đến đó khai thác đá đỏ để tạc lên bức tượng Xích Thố. Cụ… có thể kể cho cháu nghe những gì cụ biết về cái bãi chôn tập thể này được không?”
Đôi bàn tay gầy guộc đang vân vê chiếc tẩu thuốc của cụ Mẫn bỗng khựng lại. Không gian xung quanh dường như đông cứng.
Đạt cũng chỉ là nhất thời hồ đồ, muốn tìm hiểu xem câu chuyện về bãi chôn tập thể, về ông Tam và bức tượng của ông ta, về cái chết của bà Mến, về đồng dao mà ông Ba nói... thực hư là như thế nào mà thôi. Được rồi! Đạt thừa nhận bản thân đúng là một kẻ tò mò, nhưng anh là một thương nhân, mọi chuyện đằng sau đối tượng thương thảo của mình, anh cũng cần phải biết rõ. Bởi vì, chỉ một khi bản thân biết và hiểu chuyện, mình mới có thể thuyết phục được người khác!
Bấy giờ, ở sân nhà cụ Mẫn, cụ Mẫn thì ngồi bất động, Đạt thì đăm chiêu suy nghĩ, cảnh tượng này nhất thời trông thật khó tả!
Hùng định lên tiếng cắt ngang, lúc này, cụ Mẫn lại đột ngột thở hắt ra một tiếng. Cụ quờ quạng đặt chiếc tẩu xuống chõng, ra hiệu cho Đạt và Hùng ngồi xuống gần đó. Nét mặt cụ co rúm lại, những nếp nhăn xô vào nhau đầy vẻ già nua.
“Cái bãi chôn tập thể mà cậu nói, nó có một cái tên mà ít ai nhắc tới, gọi là Gò Tử Sĩ. Người ta sợ nó, tránh nó như tránh hủi, nhưng hầu hết chẳng ai biết rõ nguồn cơn thật sự, chỉ biết là đất độc, ai đụng vào là bỏ mạng. Nhưng ta thì biết, bởi ta được ông nội ta kể lại...”
Cụ bắt đầu kể, giọng trầm xuống, đưa Đạt và Hùng quay ngược thời gian về quá khứ đẫm máu.
“Chuyện xảy ra từ thời Bắc Sơn, lâu lắm rồi...
Năm ấy, vùng đất này chưa gọi là Thạch Mã. Nó chỉ là một hẻm núi hoang vu, hiểm trở, là nơi đóng quân bí mật của một cánh quân Bắc Sơn do nữ tướng quân Loan Ngọc chỉ huy. Bà là một bậc nữ nhi kiệt xuất, võ nghệ cao cường, cưỡi con chiến mã màu đỏ rực như lửa, binh sĩ của bà đều gọi là Xích Thố. Dưới trướng bà là hơn ba trăm binh sĩ tinh nhuệ, thề sống chết có nhau.
Nhưng lòng người hiểm ác hơn sông sâu. Trong số những kẻ thân tín, có một nhóm nhỏ vì tham vàng bạc, vì hèn nhát sợ chết trước thế giặc đang vây hãm, đã bí mật bán đứng bà. Chúng dẫn đường cho quân địch, lừa tướng quân cùng ba trăm binh sĩ vào hẻm núi cụt trước thôn, chính là Gò Tử Sĩ.
Đêm đó là đêm 29 Tết, trời tối đen như mực. Khi quân Bắc Sơn đang hạ trại, quân địch cùng bọn phản bội bất ngờ lăn đá tảng từ trên cao xuống, bịt kín lối ra, dập chết cả những người bị giam hãm trong đó. Sau đó, chúng châm lửa đốt, rồi lấp đất, vừa chôn sống người chết vừa chôn sống người còn thoi thóp. Máu thịt của họ trộn lẫn với đất đá, thấm sâu vào lòng đất, biến cả cái hẻm núi ấy thành một vũng bùn máu.
Không những vậy, những kẻ khốn nạn đó còn quay trở về thôn này uy hiếp và giết người. Sau khi quân Bắc Sơn tan rã, chúng dùng số vàng bạc bán chúa cầu vinh để định cư lại đây, lập nên thôn Thạch Mã.”
Thạch Mã không ngờ lại là một vùng đất được xây dựng trên nền móng của sự phản bội và máu xương của đồng đội!
Cụ Mẫn vẫn còn tiếp tục kể:
“Người yêu của bà Loan Ngọc là một phó tướng dũng mãnh, lúc xảy ra chuyện thì hắn đang đi làm nhiệm vụ thám thính. Khi hắn quay lại, mọi chuyện đã xảy ra rồi. Hắn điên cuồng đào bới đống đất đá để tìm xác người yêu, nhưng chỉ thấy xương trắng và đá vụn.
Hắn một mình một ngựa lao vào thôn, tàn sát những kẻ phản bội đang ăn mừng chiến công. Nhưng sức người có hạn, hắn bị những kẻ phản bội kia đánh chết ngay tại cổng thôn. Trước khi chết, hắn thề sẽ hóa thành quỷ dữ, đời đời kiếp kiếp quay lại đòi nợ máu.”
Không gian trong sân dù khoảng khoát nhưng khí chẳng thể lưu thông. Đạt cảm giác như có ai đó bóp nghẹn cổ họng của mình.
“Hai con ngựa đá ở cổng thôn là...” Đạt hỏi, nhớ lại hình ảnh con ngựa trắng và ngựa đỏ đứng sừng sững ngoài cổng thôn.
Cụ Mẫn cười nhạt: “Đó là thế trấn!”
Quả nhiên giống như anh suy nghĩ!
Cụ nói tiếp:
“Sau khi thảm sát xảy ra, oan hồn của quân lính và bà Loan Ngọc quấy phá dữ dội. Bọn phản bội đêm nào cũng nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập, tiếng binh khí va chạm từ hư vô vọng lại. Nghe đồn, trong thôn thậm chí còn xuất hiện rất nhiều người chết bất đắc kỳ tử, không rõ nguyên nhân do đâu.
Vì quá hoảng, bọn họ đã mời một thầy pháp cao tay về trấn. Ông thầy pháp cho tạc hai bức tượng ngựa khổng lồ đặt ngay cổng thôn, chắn lối ra vào duy nhất hướng về phía hẻm núi. Một con Bạch Mã tượng trưng cho tang tóc, âm khí. Một con Xích Thố tượng trưng cho máu lửa, sát khí. Hai con ngựa này như hai mặt của bàn cờ âm dương, khóa chặt long mạch, đứng đó chặn không cho oan hồn của bà Loan Ngọc và ba trăm binh sĩ thoát ra khỏi hẻm núi xâm nhập vào thôn để báo thù.”
Cụ Mẫn ngập ngừng, đôi tay lần tìm chén trà đã nguội ngắt.
“Nhưng cái gì cũng có giá của nó. Thầy pháp đó nói, muốn trấn được oán khí ngút trời này, thì phải có vật dẫn, đó chính là mạch nước của thôn. Ông ta đã nắn dòng chảy ngầm từ hẻm núi, cũng là nơi chôn xác tập thể, chảy qua dưới chân hai con ngựa đá, rồi dẫn về giếng thôn. Sinh hoạt bằng thứ nước ấy, dân mới có thể che giấu đi dòng máu phản bội của mình mà sống yên ổn...”
Đạt trầm ngâm, xâu chuỗi lại mọi việc.
“Ông Ba và ông Tam cũng biết chuyện này đúng không? Tại sao họ vẫn khai thác đá đỏ, và nếu như theo lời cụ nói, họ làm thế nào mà toàn thây trở về?”
Cụ Mẫn ngước đầu lên nhìn Đạt, mặc dù biết cụ chẳng nhìn thấy gì, nhưng hướng nhìn của cụ vẫn thẳng chính xác đến chỗ anh. Cụ đột ngột cười lớn, đoạn sau mới nói: “Chẳng phải cậu và thằng Hùng vẫn thoát ra khỏi đó được hay sao?”
Câu hỏi của cụ Mẫn khiến Đạt sững sờ trong giây lát. Đúng vậy, anh và Hùng đã thoát ra được và đến hiện tại vẫn bình an vô sự.
Tiếng cười của cụ Mẫn nhanh chóng tắt ngấm sau tràng cười lớn vừa rồi. Khuôn mặt nhăn nheo của cụ đanh lại, giọng nói trở nên khàn đặc:
“Hai đứa nó chỉ cần uống no cái bụng chỗ nước ở giếng cổ là đủ. Nước ngấm vào mạch máu, hòa tan với máu thịt, tự khắc khiến chúng không bị ảnh hưởng bởi oán khí của Gò Tử Sĩ, bất kể gốc gác thế nào. Còn về phần cậu và Hùng, oán khí chưa quật ngã hai người có thể vì hai cậu không mang dòng máu của những kẻ phản bội năm xưa, hoặc là vì thứ đó coi hai người đằng nào cũng là kẻ chết rồi!”
Đạt nhíu mày: “Ý cụ là sao?”
Cụ Mẫn không trả lời, ngước nhìn lên bầu trời ảm đạm. Bầu trời bị những cành tre đan xen quấn quýt lấy nhau che lấp đi ánh sáng, vốn chẳng nhìn thấy được gì cả. Đó là một bóng đêm vô tận, ập xuống cái thôn này, và bao trùm lấy mọi sinh mệnh sống trong đó.
Cụ Mẫn thả một câu nhẹ tễnh: “Cả thôn này, sắp gặp đại họa rồi!”
Câu nói của cụ Mẫn khiến Đạt chợt nhớ đến bài đồng dao mà ông Ba thốt lên trước khi ngất xỉu:
Quan binh có mắt,
Đợi một hai ba trông,
Cả thôn đều sẽ chết!
Sau khi cụ Mẫn thốt ra câu nói trên, dù Đạt gặng hỏi gì nữa, cụ Mẫn đều sẽ làm ngơ. Cụ ngồi bất động như một pho tượng, đôi mắt đục ngầu khép hờ, dường như đã chìm vào thế giới riêng của mình. Biết không thể khai thác thêm được gì lúc này, Đạt đành nén tiếng thở dài, ra hiệu cho Hùng rời đi.
Bước ra khỏi nhà cụ Mẫn, cái lạnh của màn đêm vùng núi ập tới, tê buốt da thịt. Những câu từ ngây ngô mà rợn tóc gáy trong bài đồng dao cứ văng vẳng bên tai anh. Đạt chợt khựng lại. Anh nhớ tới lời gốc của bài đồng dao này mà Hùng nói, đó là “Sắp bắt được con quỷ nước”.
Theo lời cụ Mẫn nói, toàn bộ mạch nước từ hẻm núi đều đổ dồn về giếng cổ, cái giếng ấy không chỉ là nguồn nước sinh hoạt, mà còn là mắt xích quan trọng nhất trong trận đồ trấn yểm của gã thầy pháp năm xưa. Nó là vật dẫn để giấu đi mùi phản bội của những người trong thôn. Vậy thì quỷ nước trong bài đồng dao, liệu có phải đang ám chỉ thứ gì đó nằm sâu dưới đáy giếng?
Quỷ nước... Rốt cuộc dưới giếng nước có thứ gì?
Một ý nghĩ táo bạo và điên rồ lóe lên trong đầu Đạt. Anh quay sang Hùng, hỏi: “Giếng trong thôn sâu khoảng bao nhiêu mét?”
Hùng đang lúi húi cài lại then cổng, nghe thấy thế thì giật mình, hỏi lại: “Anh... lại hỏi cái này để làm gì?”
Bấy giờ, Hùng thực sự quá khiếp sợ trước hành động của Đạt. Từ ban trưa đến bây giờ, Đạt toàn lao mình vào chỗ hiểm, hơn nữa anh chưa hề nghỉ ngơi lấy một khắc nào. Đến cả Hùng là người thường xuyên tập luyện, là dân leo núi chuyên nghiệp cũng thấy mệt khi chạy theo Đạt.
“Tôi muốn lặn xuống xem thử!” Đạt đáp gọn lỏn.
Mặt Hùng tái mét, cắt không còn giọt máu. Cậu ta vội vàng xua tay quầy quậy, giọng lạc đi không biết vì mệt mỏi hay là vì hoảng sợ:
“Không được! Tuyệt đối không được! Anh không thấy trời tối đen như mực rồi sao? Cái giếng đó ban ngày nhìn xuống đã sâu hun hút không thấy đáy, người trong thôn còn chẳng dám bén mảng tới gần vào giờ Tý, huống hồ là lặn xuống.”
Thấy Đạt vẫn có vẻ chưa từ bỏ ý định, Hùng bước tới nắm chặt lấy cánh tay anh, kéo mạnh về con đường phía trước.
“Tôi biết anh muốn nhanh chóng tìm thấy ông Tam và con Xích Thố, nhưng mạng sống vẫn quan trọng hơn. Đêm mà lặn xuống giếng thì chẳng khác nào tự nộp mạng cho Diêm Vương. Trước tiên, về nhà tôi nghỉ ngơi đã, muốn làm gì thì đợi sáng mai, tôi sẽ đi cùng anh!”
Đạt nhìn vẻ mặt sợ hãi của Hùng, rồi lại nhìn bầu trời đen kịt không lấy chút ánh sáng của trăng và sao. Xung quanh, tiếng ếch nhái kêu ộp oạp vọng lại từ đâu đến. Anh biết Hùng nói đúng, hơn nữa còn thấy bản thân mình thật điên rồ. Cho dù là vì tiền thì lặn xuống một cái giếng cổ sâu hoắm vào thời điểm này quả thực là hành động tự sát!
Đạt gật đầu, thở hắt ra một hơi sương trắng: “Được, tôi về nhà cậu trước.”
Hùng thở phào nhẹ nhõm, vẫn vội vã kéo Đạt rảo bước thật nhanh, như sợ rằng chỉ cần chậm một giây thôi, bóng tối sau lưng sẽ chồm lên nuốt chửng lấy cả hai người.
Đầu Đạt lúc đó quay mòng mòng, dường như cảm thấy có điều gì đó không đúng, mãi đến khi đặt chân lên mảnh đất được gọi là nhà của Hùng, Đạt mới hiểu thứ nghi vấn mờ sương trong đầu mình là gì: thì ra nhà mà cậu ta nhắc tới lại chính là một căn trọ!

Tham gia cuộc trò chuyện